Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

Khái niệm thái độ-kĩ năng-năng lực trong giáo dục

Comportement = Compétence x capacité :
Comportement se compose de deux composants : la composante mentale (la représentation) et observable (performance)

- La composante mentale : la représentation 

+ Compétence est considéré comme un savoir dynamique (un savoir potentiel mobilisable dans un grand nombre de situations différentes de même type.

+Capacité : outil qui permet l'acquisition des savoirs (il s'agit d'un processus intellectuel). La capacité est le savoir-faire transversal et décontextualisé. Ce savoir entre en interaction avec une multitude de compétences diverses.

+Capacité : le processus mentale à mettre en oeuvre

- La composante observable: la performance

La performance est l'acte concrète manifesté. C'est la variable produit. C'est le résultat visible de l'interaction de la compétence et de la capacité.

La performance est l'acte efficient qui rétablit l'équilibre individu-milieu


=> Compétence x Capacité = Performance:

- Compétence est considéré un axe vertical

- Capacité est considéré un axe transversale

Le croisement entre les deux axes forme la performance.

- Compétence selon Larousse de 1930

Compétence = connaissances + qualités + capacités, aptitudes qui mettent en oeuvre de discuter, de consulter, de décider sur tout ce qui concerne son métier.

=> compétences = connaissances théoriques qualité accompagnées et la capacité d'exécuter des décisions suggérées.

- Les savoirs, c'est à dire l'ensembles des connaissances générale ou spécifiques à posséder; il peut s'agir de connaissances théoriques ou de la maîtrise de certains langages scientifiques et technique

- Les savoir -faire, ils concernent la maîtrise d'outils et de méthodes dans des contextes bien spécifiques. Il importera de préciser dans quelle mesure ces savoir-faire sont transférables à des situations de travail diversifiées.

- Savoir - être paraît recouvrir un ensemble de comportement d'adaptation, de relation avec d'autres

- Savoir pratique: savoir d'expérience

=> Est compétent : dominer la situation dans laquelle elle se trouve

Mục tiêu của việc day- học

Mục đích của việc học các môn khoa học là hiểu thế giới xung quanh mình. Do vậy, người học phải tự mình quan sát  thực tiễn, tự  trải nghiệm thực tiễn, tự hình thành tư duy cho mình.  Quá trình giáo dục sẽ rèn luyện cho người học có một trực giác nhạy bén và một bộ óc khái quát (tính qui nạp).


Mục tiêu giáo dục còn hướng tới phát triển sự sáng tạo cho các em. Sự sáng tạo chỉ là một công việc bình thường trong quá trình khám phá ra thế giới. Ví dụ phương pháp quan sát có hệ thống, thu thập thông tin, thiết lập thực nghiệm, sử dụng dụng cụ phù hợp, xử lí kết quả và giải thích kết quả, giải thích. Sau cùng kết luận và đặt ra câu hỏi tương tự nhằm đưa đến giả thuyết mới.



Mục tiêu việc học là khám phá dần dần ra thế giới xung quanh mình từ vĩ mõ đến vi mô và siêu vĩ mô.


Tư tưởng giáo dục của FuKuZaMa

Tư tưởng của ông là tư tưởng giáo dục con người tự chủ và khai sáng

+ Con người tự chủ không chạy theo trào lưu và chịu sự chi phối của dư luận.

+Một dân tộc tự chủ, trưởng thành là dân tộc sẳn sàng học hỏi tất cả cái đẹp đến từ mọi phía, tuy nhiên không làm mất đi căn tín của chính mình.

+ Đào tạo công dân tự chủ, độc lập, có trách nhiệm, dám dấn thân để bảo vệ chân lí và công bình xã hội.

+ Mỗi cá nhân cần phải biết sống độc lập

+ Sự lệ thuộc là nguyên nhân của mọi cái xấu

=> cá nhân tự chủ => tập thể tự chủ => đất nước tự chủ => đất nước không lệ thuộc vào ngoại bang.

Tóm lại: lấy mẫu người tự chủ và có trách nhiệm làm mục tiêu đào tạo



Tư tưởng giáo dục của Kant

Giáo dục cho các em biết phục tùng sự cưỡng bách. Tuy nhiên giáo dục cũng cho các em biết sử dụng năng lực do của chính mình.

Tư tưởng giáo dục của T

- Giáo dục cho người học hướng tới sự chủ động trong việc tìm kiếm ra các tri thức khoa học trong tự nhiên.

- Giao dục hướng cho học sinh biết cách suy nghĩ, đặt câu hỏi giải quyết các vấn đề xảy ra trong thực tế xung quanh mình. Giáo dục không phải nhất thiết là chuẩn bị cho các em tri thức trong tương lai, mà giáo dục có tác dụng hình thành cho các em biết thích ứng với môi trường trong mọi hoàn cảnh.

- Giáo dục phải làm cho học sinh biết đật câu hỏi cho hiện tượng ? và phương tiện cần thiết để trả lời cho câu hỏi ấy.

- GiÁo dục làm cho học sinh thấy các kiến thức khoa học chỉ là sự xây dựng. Chính sự xây dựng này giúp cho con người cải tạo thế giới.

- Mục tiêu của việc dạy-học là làm thế nào cho người học thấy ý nghĩa của việc học. Giáo dục cho họ thấy ý nghĩa của việc tiếp nhận tri thức của nhân loại. Giáo dục cho họ không phải tiếp thu để hiểu thế giới, hiểu biểu tượng của thế giới,  mà giáo dục cho họ phải có trách nhiệm với thế giới này: cải tạo thế giới sao cho hoàn thiện hơn.

- Giáo dục giúp học sinh - sinh  viên hướng tới mục tiêu phát triển tư duy độc lập, khả năng lập luận một cách logique, phản biện và bảo vệ quan điểm của mình dựa trên lí tính.

Làm thế nào để hình thành cho học sinh phát triển tư duy độc lập thông qua các môn học ?

- Các nhà giáo dục cần phải nghĩ rằng, kiến thức mà học sinh rút ra từ thế giới xung quanh không góp phần cho sự phát triển của cá nhân học sinh. Sự phát triển phải gắn liền với sự tương tác của cá nhân với môi trường, quá trình tương tác đạt tới sư cân bằng kéo theo sự tổ chức lại cấu trúc nhận thức của học sinh. Quá trình tái cấu trúc nhận thức, sẽ đưa trình độ nhận thức của học sinh phát triển tới mức độ cao hơn.

- Những gì mà học sinh nghe rồi sẽ quên, học sinh thấy sẽ nhớ, những gì học sinh làm sẽ hiểu.

Ngày 29 thang 9 nam 2014

"Apprendre est un processus paradoxal voire conflictuel pour l’apprenant. Il apprend souvent contre ses conceptions. C’est parce qu’on dépasse une certaine cohérence qu’on arrive à apprendre. L’objectif est de permettre à l’élève de transformer son système de pensée" 
Ngày 11 thang 10 nam 2014

Apprendre sans penser est inutile, mais penser sans apprendre est dangeureux (conficius)

(dich hoc mà khong tu duy thi vô ich,tu duy mà khong hoc thi nguy hiem)

Ngày 19 thang 10 nam 2014

"...Phương pháp giáo dục là phương pháp để trẻ em chiếm lĩnh thực tại, chiếm lĩnh đối tượng khoa học, đi lại con đường nhà bác học đã đi, người nghệ sĩ đã đi, không buộc trẻ tiếp nhận chân lý có sẵn..." (cf. https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=2284907267016726831#editor/target=post;postID=5533596325267201121;onPublishedMenu=allposts;onClosedMenu=allposts;postNum=7;src=link)

Pédagogique

-      "Đừng giáo dục các em thế giới của hôm nay. Thế giới của hôm nay sẽ thay đổi khi các em lớn lên. Phải ưu tiên giúp các em biết cách phát triển tư duy sáng tạo và rèn luyện khả năng tự thích nghi".(Montessori)


"...Con người trong quá trình khám phá thế giới, nó đã tự mình tạo nên kiến thức, nó đã tự mình tạo nên thế giới của mình. Còn giáo dục chỉ là sự giúp đỡ để con người có thể tự học, để con người tự khai sáng cho mình." (Piaget)


Quá trình  giảng dạy môn khoa học 


OHERIC 

- O: observation : quan sát

- H: Hypothèse: giả thuyết

- E: expérience: thực nghiệm

- R: résultat: kết quả

-  I: Interprétation

- C: Conclusion: kết luận

Theo quá trình này quá trình giảng dạy không phải là là quá trình truyền tải nội dung từ người biết sang người chưa biết. Hành động đầu tiên của quá trình học bắt đầu bởi sự quan sát hiện tượng  xảy ra. Sau đó, người học đưa ra một vài câu trả lời tạm thời cho hiện tượng quan sát (giả thuyết). Những giả thuyết muốn được công nhận hay bác bỏ, người học cẫn phải thiết lập thực nghiệm. Kết quả của quá trình thực nghiệm được giải thích hiện tượng xảy ra. Sau cùng thì người học tự kết luận và hình thành kiến thức cho mình.


Nhận xét : 

- Quá trình này hình thành cho người học quá trình tư duy.

-Hình thành cách giải quyết vấn đề.

- Người học  dần dần thích nghi với cuộc sống khi đối diện với các vấn đề xảy ra

- Hình thành một phương pháp tư duy khoa học hệ thống. 

n           
Ngày 19 thang 09 nam 2014

  Giáo dục không phải dừng lại cho học sinh hiểu thế giới, giải thích các qui luật biến đỔi của thế giới, mà giáo dục còn phải hướng tới cho người học biến đổi thế giới này.